Bài giảng tổng quan về viêm ruột thừa

Bài giảng tổng quan về viêm ruột thừa

Viêm ruột thừa là một trong những cấp cứu ngoại khoa phổ biến, vậy viêm ruột thừa là gì và hướng điều trị bệnh lý này như thế nào cho hiệu quả?

Bài giảng tổng quan về viêm ruột thừa

Bài giảng tổng quan về viêm ruột thừa

Bác sĩ Chu Hòa Sơn giảng viên Cao đẳng Điều dưỡng Hà Nội – Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur chia sẻ, viêm ruột thừa cấp là một trong những bệnh lý cấp cứu ngoại khoa vô cùng quan trọng  và cũng rất phổ biến, tỷ lệ nam/nữ mắc bệnh khoảng 1,3:1.

Nguyên nhân và sinh lý bệnh của ruột thừa viêm cấp

Ruột thừa cũng là một trong những cơ quan miễn dịch của cơ thể tuy mức độ miễn dịch của ruột thừa không quá đặc hiệu, ruột thừa có tác dụng tích cực vào sự chế tiết globulin miễn dịch (Ig), đặc biệt là IgA. Việc phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa không được khuyến cáo, vì chúng không có lợi cho hệ miễn dịch của cơ thể.

Tắc nghẽn lòng ruột thừa là yếu tố gây bệnh nổi bật nhất trong viêm ruột thừa cấp. Sỏi phân là nguyên nhân gây tắc ruột thừa hay gặp. Một nguyên nhân ít gặp hơn là do phì đại mô bạch huyết; có thể do chất baryt bị cô đặc lại khi chụp X quang trước đây; do rau và quả hạt; do giun đũa – Bác sĩ Phạm Văn Hữu giảng viên Cao đẳng Y Dược TP HCM – Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur cho biết thêm.

Tắc nghẽn lòng ruột thừa là yếu tố gây bệnh nổi bật nhất trong viêm ruột thừa cấp

Tắc nghẽn lòng ruột thừa là yếu tố gây bệnh nổi bật nhất trong viêm ruột thừa cấp

Dấu hiệu nhận biết viêm ruột thừa cấp

Để chaarn đoán bệnh viêm ruột thừa hay bất cứ một bệnh lý ngoại khoa nào các Bác sĩ sẽ dựa vào dấu hiệu cơ năng, dấu hiệu thực thể và các xét nghiệm cận lâm sàng:

  • Cơ năng

Đau bụng: Đây là triệu chứng đầu tiên của viêm ruột thừa cấp, bệnh nhâ bắt đầu xuất hiện những cơn đau bụng lan toả ở vùng thượng vị và vùng rốn. Đau vừa phải, không thay đổi, đôi khi có những cơn co thắt trội lên. Sau một thời gian từ 1-12 giờ (thường trong vòng  4-6 giờ), cơn đau sẽ khu trú ở hố chậu phải.

Ở một số bệnh nhân, đau của viêm ruột thừa bắt đầu ở hố chậu phải và vẫn duy  trì ở đó. Sự thay đổi về vị trí giải  phẫu của ruột thừa đã giải thích cho những thay đổi về vị trí của cơn đau kiểu  tạng. Sự quay bất  thường của ruột cũng làm cho triệu chứng đau phức tạp hơn. Phần thần kinh tạng ở vị trí bình thường, nhưng phần thần kinh bản thể nhận cảm  giác ở vùng bụng-nơi manh tràng bị giữ lại trong khi xoay.

Chán ăn: Hầu như luôn đi kèm theo viêm ruột thừa. Nó hằng định đến mức   khi bệnh nhân không có chán ăn thì cần phải xem lại chẩn đoán.

Nôn mửa: Xảy ra trong khoảng 75% bệnh nhân, nhưng không nổi bật và kéo dài, hầu hết bệnh nhân chỉ nôn 1-2 lần.

  • Dấu hiệu thực thể

Dấu hiệu sống không thay đổi nhiều đối với viêm ruột thừa nếu như chưa có biến chứng. Nhiệt độ ít khi tăng quá 390C, mạch bình thường hay hơi tăng. Những thay đổi quá mức thường gợi ý là đã có biến chứng hoặc nên xem xét đến một chẩn đoán khác.

Bệnh nhân viêm ruột thừa thường thích nằm ngửa, với hai đùi (đặc biệt là đùi  phải) thường kéo gấp lên – bởi vì bất kỳ cử động nào cũng làm đau gia tăng. Nếu như yêu cầu cử động, bệnh nhân cũng chỉ làm chậm  chạp và thận trọng.

Dấu hiệu đau thực thể kinh điển ở hố chậu phải chỉ có khi ruột thừa bị viêm nằm ở vị trí phía trước. Cảm giác đau thường nhiều nhất ngay ở điểm đau  Mac Burney hoặc gần với điểm Mac  Burney.

Dấu giảm áp (dấu Blumberg) thường gặp và dấu hiệu này rõ  nhất ở hố chậu phải, điều đó cho thấy có sự  kích thích phúc mạc.

Dấu Rovsing  (đau ở hố chậu phải khi đè vào hố chậu  trái) cũng chỉ cho thấy vị trí của sự kích thích phúc mạc.

Quá cảm da ở trong vùng do dây thần  kinh tuỷ T10, T11, T12  bên phải chi  phối cũng hay gặp, nhưng trong một số trường hợp sớm, thì nó có thể là dấu  hiệu  dương  tính đầu  tiên. Khám triệu chứng này bằng kim  châm hoặc tốt hơn là kẹp nhẹ da giữa hai ngón tay cái và trỏ. Thông thường nghiệm pháp này hay gây đau cho bệnh nhân.

Nhận biết sớm viêm ruột thừa giúp bệnh nhân tránh được những biến chứng nguy hiểm

Nhận biết sớm viêm ruột thừa giúp bệnh nhân tránh được những biến chứng nguy hiểm

  • Xét nghiệm cận lâm sàng

Bạch cầu tăng nhẹ (từ 10.000-18.000/mm3) thường gặp ở những bệnh nhân viêm ruột thừa cấp không có biểu hiện và thường kèm theo tăng bạch cầu đa nhân vừa phải. Nếu công thức bạch cầu bình thường và không có  tăng bạch cầu đa nhân, thì nên xem xét lại chẩn đoán viêm ruột thừa cấp.

Chụp phim bụng thẳng: ít khi giúp ích cho chẩn đoán viêm ruột thừa cấp. Dẫu đôi khi có giúp cho loại trừ bệnh lý phụ khác, ở bệnh nhân viêm ruột thừa cấp, người ta thường nhận thấy có hình ảnh ruột. Trướng hơi bất thường, nhưng không đặc hiệu. Hiếm khi có thể thấy được hình ảnh sỏi  phân trên phim.

Siêu âm bụng: Là một cách chính xác để xác định chẩn đoán viêm ruột thừa.  Chẩn đoán xác định viêm ruột thừa cấp bằng siêu âm có độ  nhạy từ 78-96% và độ đặc hiệu từ 85-98%.

Kỹ thuật X quang hỗ trợ bao gồm chụp cắt lớp vi tính, chụp đại tràng có baryt ít áp dụng và giá thành đắt hơn  nhiều.

Thanh Mai – ysidakhoa.net tổng hợp