Bệnh học Nội khoa: Hội chứng Đông Đặc Phổi

 

Bệnh học Nội khoa: Hội chứng Đông Đặc Phổi

85% Y sĩ đa khoa khi thực tập lâm sàng tại khoa Nội hô hấp sẽ gặp “hội chứng đông đặc phổi” trên các bệnh nhân. Vậy hội chứng đông đặc có nguy hiểm không?

Bệnh học Nội khoa: Hội chứng Đông Đặc Phổi

Bệnh học Nội khoa: Hội chứng Đông Đặc Phổi

Khi nhu mô phổi của người bệnh bị viêm, một số phế nang tại chính vùng tổn thương xung huyết chứa đầy tiết dịch, trở nên đặc và có tỷ trọng cao hơn bình thường.

Đông đặc phổi là một tình trạng bệnh lý ở nhu mô phổi có thể phát hiện được trên lâm sàng và phim x-quang. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra, đòi hỏi các y sĩ đa khoa phải kết hợp thăm khám Bệnh nhân với một số xét nghiệm cận lâm sàng (CLS) để có chẩn đoán đúng.

Hội chứng đông đặc Phổi là gì?

Bình thường nhu mô phổi xốp. Trong một số trường hợp bệnh lý, tỉ trọng của nhu mô phổi tăng lên ở một vùng lớn hoặc nhỏ, khi được thể hiện đầy đủ trên lâm sàng gọi là hội chứng đông đặc.

Cơ chế hội chứng đông đặc: Khi nhu mô phổi bị viêm lên, một số phế nang vùng tổn thương xung huyết chứa đầy tiết dịch, trở nên đặc và có tỷ trọng cao hơn bình thường. Nếu cắt một mảnh phổi bị viêm phổi thùy, bỏ vào cốc nước, sẽ thấy nó chìm xuống đáy cốc chứ không nổi trên mặt nước như phổi không đông đặc. Trên phim X-Quang ta dễ dàng nhận thấy hình mờ cản quang của nhu mô đông đặc trên phim tại vùng phổi nhất định.

Hội chứng đông đặc trên lâm sàng

Trường hợp điển hình

Một số dấu hiệu thường gặp là:

  1. Rung thanh tăng.
  2. Gõ đục ít nhiều.
  3. Rì rào phế nang giảm.

Rung thanh tăng vì nhu mô phổi đặc, rắn lại, rắn lại, nên nên dẫn truyền tiếng rung của thanh âm xa hơn bình thường. Gõ đục vì phế nang chứa nhiều tiết dịch, ít không khí.

Rì rào phế nang giảm vì một số phế nang bị viêm, nay tiết dịch nên luồng không khí lưu thông bị cản trở.

Tim rung thanh bằng áp lòng bàn tay, ở một vài người béo, người phù nhiều khi khó khăn, ta có thể bổ sung bằng phương pháp nghe tiếng nói và tiếng ho qua thành ngực:

Nghe tiếng nói: Bệnh nhân đến một, hai,ba ở vùng có đông đặc tiếng nói vang to hơn bên đối xứng, và âm sắc lanh lảnh như tiếng kim khí đó là tiếng vang phế quản.

Nghe tiếng ho: Ho có thể làm xuất hiện hoặc làm  rõ tiếng rên nổ và làm tiếng rên bọt mất đi tạm thời. Tiếng rên nổ ở một vùng khu trú có giá trị quan trọng trong chẩn đoán tổn thương phổi, nhất là khi hội chứng đông đặc hiện rõ rệt trên lâm sàng.

Ngoài ra khi thăm khám y sĩ đa khoa có thể nghe tiếng thổi ống, một số tiếng rên nổ hoặc rên bọt (xem bài: tiếng thổi, tiếng rên, tiếng bọt). Nếu phát hiện thêm một số triệu chứng đó, có thể chẩn đoán gần như chắc chắn là có đông đặc.

Trên làm sàng, một số triệu chứng thực thể có giá trị chẩn đoán quan trọng. Trong nhiều trường hợp, thăm khám lâm sàng kỹ lưỡng có thể phát hiện được đông đặc phổi mà không phải dùng đến Xquang. Việc này rất can thiết nhất là trong hoàn cảnh không có x quang.

Trường hợp không điển hình

Đôi khi hiện tượng nhu mô phổi đông đặc trên một diện rộng lớn và thể hiện trên lâm sàng một vài triệu chứng như tràn dịch màng phổi, nhưng chọc dò không có nước.

Hội chứng đông đặc trên lâm sàngHội chứng đông đặc trên lâm sàng

Trong Nội khoa có một số trường hợp viêm phổi không điển hình khác, x quang cho một hình ảnh đậm rốn phổi, sau đó hình mờ phát triển ra ngoại vi, tạo nên một tam giác mà đỉnh là rốn phổi. Hình mờ thường nhạt và không rõ giới hạn, thành đám nhỏ, thành giải và ở hai đáy phổi.

Đông đặc co rút: xơ phổi do một tổn thương mạn tính ở nhu mô phổi như lao, apxe…là một loại đông đặc co rút. Tắc hoặc hẹp phế quản do viêm, do hạch to hoặc do ung thư phế quản có thể gay xẹp phổi, phải dựa vào x quang là chủ yếu. Phải chụp phổi ở tư thế  thẳng, nghiêng để xác định vị trí đông đặc; cần soi, chụp phế quản, làm sinh thiết trong khi soi phế quản nếu có thể được để tìm nguyên nhân gay xẹp phổi.

Trường hợp đông đặc co rút ở một vùng rộng lớn, khám có thể thấy:

  • Lồng ngực bên tổn thương kém di động, xẹp xuống.
  • Rung thanh giảm hoặc mất.
  • Gọ đục.
  • Rì rào phế nang giảm hoặc mất.

Triệu chứng thực thể có thể làm cho ta nghĩ  tới hội chứng tràn dịch màng phổi, nhưng chọc dò không thấy nước, và khi đo áp lực ổ màng phổi bằng áp kế Kuss, thấy áp lực xuống rất thấp: bình thường  – 10 tới – 20cm nước. Ở đây áp lực xuống dưới – 20 hoặc thấp hơn nữa. Hiện tượng này là do phổi xẹp, co rút, kéo một số tạng lân cận lại, trung thất, cơ hoành, thành ngực bên tổn thương.

Ví dụ điển hình như Bệnh Nhân Nguyễn Văn An – SV năm 2 Cao đẳng Dược TPHCM có dấu hiệu đông đặc phổi, tiền sử suy tim mạn tính thì rất dễ phát hiện. Ở một vài người suy tim lâu ngày, phổi bị xung huyết, nhưng không đông đặc. Danh từ thông thường gọi là viêm phổi kế, nhưng thực ra phế nang không chứa tiết dịch và sợi tơ huyết. Mếu cắt một mảnh phổi đó cho vào cốc nước cũng không thấy chìm.

Triệu chứng CLS X-Quang của hội chứng đông đặc

X quang giúp ta xác định kích thước, vị trí của đông đặc và một vài tổn thương mà đôi khi lâm sàng không phát hiện được

Triệu chứng x quang

Triệu chứng x quang

Chủ yếu là một vài hình mờ chiếm một vùng hoặc rải rác trên phế trường, hình mờ có thể chiếm một phân thuỳ, có khi cả một bên phổi. Mật độ hình mờ có thể đều hoặc không đều, ranh giới rõ rệt hoặc không.

Ngoài ra còn phải quan sát một số tạng lân cận: Một hình mờ lớn ở một bên phổi kèm theo co rút cơ hoành, trung thất và một số khoảng liên sườn có thể hướng tới chẩn đoán đông đặc co rút. Trái lại, nếu một số tạng lân cận bị đẩy ra thì có thể đó là tràn dịch màng phổi.

Nguyên nhân gây hội chứng đông đặc

  • Viêm phổi không do lao
  • Áp xe phổi
  • Lao phổi
  • Xẹp phổi do chèn ép phế quản
  • Nhồi máu động mạch phổi

Kết luận

Trong lâm sàng nội khoa hiện nay các y sĩ có thể chẩn đoán hội chứng đông đặc điển hình trên lâm sàng nhờ ba triệu chứng chính sau đây:

  • Gõ giảm tiếng trong.
  • Rung thanh lăng.
  • Rì rào phế nang giảm.

Nếu có tiếng rên nổ và thổi ống, chẩn đoán lâm sàng càng chắc chắn.

Đối với một vài trường hợp nhu mô phổi đông đặc không có biểu hiện rõ rệt trên lâm sàng, X-Quang cần thiết cho chẩn đoán.

Hội chứng đông đặc có nhiều nguyên nhân, người khám muốn xác định được cần phải kết hợp theo dõi lâm sàng và một số xét nghiệm khác đi kèm.

Nguồn: Y Sĩ Đa Khoa