Phác đồ điều trị sốc phản vệ ở trẻ em

Phác đồ điều trị nội khoa: Phác đồ điều trị sốc phản vệ ở trẻ em

Sốc phản vệ là phản ứng quá mẫn tức thì phát sinh khi có sự xâm nhập lần thứ hai của dị nguyên vào cơ thể. Trường hợp sốc phản vệ ở trẻ em cần được cấp cứu xử trí nhanh và chính xác.

Vì sao trẻ bị sốc phản vệ?

Bác sĩ tại Trường Cao đẳng Y dược Pasteur cho biết, sốc phản vệ ở trẻ em xuất hiện rất nhanh, chỉ sau 30 phút hoặc ngay sau khi tiếp xúc với dị nguyên là có thể xuất hiện sốc phản vệ. Sốc phản xảy ra với một số triệu chứng hạ huyết áp (HA), trụy tim mạch, suy hô hấp cấp do tăng tính thấm thành mạch,…

Nguyên tắc điều trị sốc phản vệ ở trẻ em như thế nào?

Thuốc Adrenalin dùng ngay càng sớm càng tốt vì thay đổi ngay một số dấu hiệu nặng do sốc phản vệ gây ra như co thắt phế quản và tụt HA do Adrenalin làm tăng cAMP trong tế bào mast và basephil sẽ ức chế giải phóng một số chất trung gian hoá học.

Trên lâm sàng thì cơ bản là thuốc Adrenalin còn kích thích trên hệ giao cảm và phó giao cảm làm tăng co bóp cơ tim tăng sức cản mạch ngoại vi, làm tăng HA, tăng tưới máu một số cơ quan.

Xử trí ban đầu sốc phản vệ ở trẻ em

Cho người bệnh nằm tại chỗ, đầu thấp, ủ ấm, nằm nghiêng khi có nôn, đo HA 10 phút/lần.

  • Ngừng ngay tiếp xúc dị nguyên (thuốc đang tiêm, uống …).
  • Duy trì đường thở: tư thế đường thở mở, hút đờm dãi và thở oxy.
  • Trường hợp tắc nghẽn đường thở nặng trẻ tím nhiều: đặt nội khí quản hô hấp hỗ trợ.
  • Epinephrine: tiêm bắp Adrenalin 1/1000 (0,01 mg/kg), 0,01 ml/kg, hoặc ở trẻ em không biết cân nặng Adrenalin 1‰ 0,3 ml.

+ Tiêm bắp ngay sau khi xuất hiện triệu chứng sốc phản vệ.

+ Có thể nhắc lại 5 – 10 phút liều lượng như trên cho đến khi HA trở lại bình thường.

Phác đồ xử trí sốc phản vệ ở trẻ em

Chú ý

Tiêm bắp cơ lớn (mặt trước đùi) thuốc hấp thu và đạt nồng độ cao hơn so tiêm cơ nhỏ hoặc tiêm dưới da.

Không sử dụng tiêm trực tiếp tĩnh mạch, trừ trường hợp cấp cứu ngừng tuần hoàn vì có thể gây loạn nhịp.

Trường hợp HA hạ hoặc không đáp ứng liều lượng ban đầu: Adrenalin 1/10.000 tiêm tĩnh mạch liều lượng 0,1 mg/Kg (0,1 ml/Kg) hoặc truyền Adrenalin tĩnh mạch.

Truyền Adrenalin tĩnh mạch liều lượng bắt đầu 0,1 μg/kg/ph tăng dần đến khi đạt hiệu quả, tối đa 0,5 μg/kg/ph (để giảm tác dụng phụ của Adrenalin). hoặc phoi hop them Dopamin liều lượng bắt đầu 0,3 μg/kg/ph tăng liều lượng dần mỗi 10 – 15 phút đến khi đạt hiệu quả, tối đa 10 μg/kg/ph. Bệnh nhân phải được theo dõi sát và monitor điện tim khi truyền Adrenalin để phát hiện và xử trí kịp thời rối loạn nhịp tim.

Truyền Lactate Ringer hoặc Normal Saline 20 ml/kg/giờ sau đó trường hợp huyết động học cải thiện tốt, giảm liều lượng Lactate Ringer còn 10 ml/kg/giờ. (nên truyền trong 1 giờ thay vì bơm tĩnh mạch dễ nguy cơ phù phổi.

  • Đo và theo dõi CVP.
  • Trường hợp còn sốc sau Normal saline/ Lactate Ringer 20 ml/kg/giờ.
  • Đo HA xâm lấn.

Truyền dung dịch cao phân tử (Haesteril 6% 200/0,5 hoặc Dextran 70) 10 – 20 ml/kg/giờ và điều chỉnh tốc độ truyền theo CVP. Trong trường hợp sốc nặng tổng thể tích dịch có thể đến 60 – 80 ml/kg.

  • Phối hợp truyền Adrenalin và Dopamin.
  • Theo dõi sát CVP vì biến chứng phù phổi rất thường gặp khi bệnh nhân hết giai đoạn dãn mạch.

Một số biện pháp khác điều trị sốc phản vệ ở trẻ em

  • Tuỳ theo điều kiện trang thiết bị và trình độ chuyên môn mà Y sĩ đa khoa có thể áp dụng một số biện pháp sau.

Chống suy hô hấp

  • Làm thông đường thở, thở O2, thổi ngạt.
  • Đặt nội khí quản bóp bóng oxy, thông khí nhân tạo.
  • Mở khí quản trường hợp có phù thanh môn.
  • Truyền tĩnh mạch: Aminophylin 1mg/kg/giờ hoặc terbutalin 0,2 mcg / kg /phút. Có thể dùng terbutalin 0,2 ml/10 kg tiêm dưới da, nhắc lại sau 6 – 8 giờ trường hợp không đỡ khó thở hoặc xịt họng terbutalin/hoặc salbutmol 2,5mg – 5 mg/lần x 4 – 5 lần/ngày.

Tiêm thuốc Adrenalin trong phác đồ điều trị sốc phản vệ ở trẻ em

Chống suy tuần hoàn

  • Thiết lập 2 đường truyền tĩnh mạch: 1 đường truyền dịch điện giải, duy trì tiền gánh, 1 đường truyền thuốc vận mạch.
  • Truyền Adrenalin duy trì HA: liều lượng khởi đầu 0,1 mcg/kg/phút điều chỉnh theo HA, liều lượng tối đa 2 mcg/kg/phút.

Một số thuốc khác

  • Methylprednisolon 1 – 2 mg/kg/ lần tĩnh mạch phương pháp 4h hoặc tiêm bắp.
  • Hydrocortison hemisuccinat 5 mg/kg/giờ tĩnh mạch hoặc tiêm bắp tại tuyến cơ sở có thể liều lượng cao hơn trường hợp sốc nặng.
  • Diphenylhydramin 1- 2 mg/kg/lần tĩnh mạch hoặc prometazin 1 mg/kg/lần tiêm bắp phương pháp 6 – 8 giờ.
  • Ranitidin 1- 2 mg/kg/lần phương pháp 6 – 8 giờ trong sốc nặng hoặc tĩnh mạch.

Giám sát: mạch, HA, nhịp thở, SpO2, ý thức, bài niệu, 30 phút – 1 giờ/1 lần.

Điều trị phối hợp và theo dõi

  • Theo dõi ít nhất 24 giờ sau khi HA đã ổn định: giám sát: mạch, HA, nhịp thở, SpO2, ý thức, bài niệu, 30 phút – 1 giờ/1 lần.
  • Trường hợp HA không ổn định có thể dùng dung dịch cao phân tử: plasma, Human albumin, phối hợp thuốc vận mạch.

Điều dưỡng Cao đẳng có thể tiêm Adrenalin theo phác đồ trên khi bác sỹ chưa kịp có mặt.

Hỏi kỹ tiền sử dị ứng, trang bị hộp thuốc cấp cứu sốc phản vệ là rất cần thiết có tính pháp qui.

Thông tin trên mang tính chất tham khảo, Ysidakhoa.net không đưa ra một số lời khuyên, chẩn đoán hay một số phương pháp điều trị y khoa.

Nguồn: ysidakhoa tổng hợp phác đồ điều trị nội khoa

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.