Cách phân loại viêm đường hô hấp cấp theo những thể bệnh

Cách phân loại viêm đường hô hấp cấp theo những thể bệnh

Dịch Covid-19 tính đến 31/7/2020 vẫn chưa có dấu hiệu đi xuống mà càng ngày càng phức tạp biến thể và lây lan mạnh hơn.Vì vậy, Y sĩ đa khoa cần phân loại chính xác những thể bệnh do Sars-Cov-2 gây ra.

Virus Sars-Cov-2

Viêm đường hô hấp cấp tính do Sars-Cov-2 có thể biểu hiện những thể bệnh trên Y học lâm sàng được các chuyên gia y tế, Y sĩ , bác sĩ tại Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur như sau:

  Viêm đưng hô hấp trên

Người bệnh có những dấu hiệu không đặc hiệu như sốt, ho khan, đau họng, nghẹt mũi, mệt mỏi, đau đầu, đau mỏi cơ. Người cao tuổi hoặc người suy giảm miễn dịch có thể có những dấu hiệu không điển hình.

  Viêm phổi nhẹ

  • Người lớn và trẻ lớn:bị viêm phổi và không có dấu hiệu viêm phổi nặng.
  • Trẻ nhỏ:trẻ có ho hoặc khó thở và thở nhanh. Thở nhanh được xác định khi nhịp thở ≥ 60 lần/phút ở trẻ dưới 2 tháng; ≥ 50 lần/phút ở trẻ từ 2 – 11 tháng; ≥ 40 lần/phút ở trẻ từ 1 – 5 tuổi) và không có những dấu hiệu của viêm phổi nặng.

  Viêm phổi nặng

  • Người lớn và trẻ lớn:bị viêm phổi kèm theo nhịp thở > 30 lần/phút, khó thở nặng hoặc SpO2< 90% khi thở khí phòng.
  • Trẻ nhỏ:ho hoặc khó thở, và có ít nhất một trong những dấu hiệu sau đây: tím tái hoặc SpO2 < 90%; suy hô hấp nặng (thở rên, rút lõm lồng ngực);

+ Hoặc trẻ được chẩn đoán viêm phổi và có bất kỳ dấu hiệu nặng sau: không thể uống/bú được; rối loạn ý thức (li bì hoặc hôn mê); co giật. Có thể có những dấu hiệu khác của viêm phổi như rút lõm lồng ngực, thở nhanh (tần số thở/phút như trên). Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, chụp X-quang phổi để xác định những biến chứng.

Hình ảnh viêm phổi do Sars-Cov-2

  Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS)

  • Khởi phát:những dấu hiệu hô hấp mới hoặc xấu đi trong vòng một tuần kể từ khi có những dấu hiệu lâm sàng.
  • X-quang, CT scan hoặc siêu âm phổi:hình ảnh mờ hai phế trường mà không phải do tràn dịch màng phổi, xẹp thùy phổi hoặc những nốt ở phổi.
  • Nguồn gốc của phù phổi:không phải do suy tim hoặc quá tải dịch, cần đánh giá khách quan (siêu âm tim) để loại trừ phù phổi do áp lực thủy tĩnh nếu không thấy những yếu tố nguy cơ.
  • Thiếu ô xy máu:ở người lớn, phân loại dựa vào chỉ số PaO2/FiO2 (P/F) và SpO2/FiO2 (S/F) khi không có kết quả PaO2:

+ ARDS nhẹ: 200 mmHg < P/F ≤ 300 mmHg với PEEP hoặc CPAP ≥ 5 cm H2O.

+ ARDS vừa: 100 mmHg <P/F ≤ 200 mmHg với PEEP ≥ 5 cmH2O).

+ ARDS nặng: P/F ≤ 100 mmHg với PEEP ≥ 5 cmH2O

+ Khi không có PaO2: S/F ≤ 315 gợi ý ARDS (kể cả những người bệnh không thở máy)

  • Thiếu ô xy máu: ở trẻ nhỏ; dựa vào những chỉ số OI (chỉ số Oxygen hóa: OI=MAP* xFiOx 100/PaO2) (MAP*: áp lực đường thở trung bình) hoặc OSI (chỉ số Oxygen hóa sử dụng SpO2: OSI = MAP x FiOx 100/SpO2) cho người bệnh thở máy xâm nhập, và PaO2/FiO2 hay SpO2/FiO2 cho thở CPAP hay thở máy không xâm nhập (NIV):

+ NIV BiLevel hoặc CPAP ≥ 5 cmH2O qua mặt nạ: PaO2/FiO2≤ 300 mmHg hoặc SpO2/FiO2 ≤ 264

+ ARDS nhẹ (thở máy xâm nhập): 4 ≤OI<8 hoặc 5≤OSI<7,5

+ ARDS vừa (thở máy xâm nhập): 8 ≤OI<16 hoặc 7,5≤OSI<12,3

+ ARDS nặng (thở máy xâm nhập): OI ≥16 hoặc OSI ≥12,3

  Nhiễm trùng huyết (Sepsis)

  • Người lớn:có dấu hiệu rối loạn chức năng những cơ quan:

+ Thay đổi ý thức: ngủ gà, lơ mơ, hôn mê

+ Khó thở hoặc thở nhanh, độ bão hòa ô xy thấp

+ Nhịp tim nhanh, mạch bắt yếu, chi lạnh, hoặc hạ huyết áp, da nổi vân tím

+ Thiểu niệu hoặc vô niệu

+ Xét nghiệm có rối loạn đông máu, giảm tiểu cầu, nhiễm toan, tăng lactate, tăng bilirubine…

  • Trẻ nhỏ:khi nghi ngờ hoặc khẳng định do nhiễm trùng và có ít nhất 2 tiêu chuẩn của hội chứng đáp ứng viêm hệ thống (SIRS) và một trong số đó phải là thay đổi thân nhiệt hoặc số lượng bạch cầu bất thường.

CT Sars-Cov-2 gây viêm phổi

  Sốc nhiễm trùng (Septic shock)

  • Người ln:hạ huyết áp kéo dài mặc dù đã hồi sức dịch, phải sử dụng thuốc vận mạch để duy trì huyết áp động mạch trung bình (MAP) ≥65 mmHg và nồng độ lactate huyết thanh >2 mmol/L.
  • Trẻ nhỏ:sốc nhiễm trùng xác định khi có:

+ Bất kỳ tình trạng hạ huyết áp nào: khi huyết áp tâm thu < 5 bách phân vị hoặc > 2SD dưới ngưỡng bình thường theo lứa tuổi, hoặc (trẻ <1 tuổi: <70 mmHg; trẻ từ 1-10 tuổi: < 70 + 2 x tuổi; trẻ > 10 tuổi: <90 mmHg).

+ Hoặc có bất kỳ 2-3 dấu hiệu sau: thay đổi ý thức, nhịp tim nhanh hoặc chậm (< 90 nhịp/phút hoặc >160 nhịp/phút ở trẻ nhũ nhi, và <70 nhịp/phút hoặc >150 nhịp/phút ở trẻ nhỏ); thời gian làm đầy mao mạch kéo dài (>2 giây); hoặc giãn mạch ấm/mạch nẩy; thở nhanh; da nổi vân tím hoặc có chấm xuất huyết hoặc ban xuất huyết; tăng nồng độ lactate; thiểu niệu; tăng hoặc hạ thân nhiệt.

Nguồn tài liệu: Quyết định 322/QĐ-BYT

Theo Y sĩ đa khoa – Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur tổng hợp chia sẻ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.